Thở Oxy Tại Nhà Cho Bệnh Nhân BPTNMT

Đăng bởi: Admin Hiếu Trong: FAQ Ngày đăng: 25/05/2016 Bình luận: 0 Lượt xem: 1296

BS Lê Thị Huyền Trang

Phòng khám hô hấp-BVÐHYD.

ÐẠI CƯƠNG

1.Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) là danh từ dùng để chỉ tình trạng bệnh của đường hô hấp đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường dẫn khí không hồi phục hoàn toàn. Sự tắc nghẽn đường dẫn khí này thường diễn tiến ngày càng nặng dần. Khoảng 85% BPTNMT là viêm phế quản mãn, 15% chủ yếu là khí phế thủng. BPTNMT là nhóm bệnh rất thường gặp trên thế giới cũng như tại Việt Nam.

Ở Hoa Kỳ, 16 triệu người bị BPTNMT và hàng năm có 110 000 người chết , là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư sau bệnh tim mạch, ung thư và đột quỵ.

Tại Thái Lan, năm 1998 xuất độ lưu hành của BPTNMT tại Bangkok ở những người trên 60 tuổi là 7,1% [61].

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Ðình Hường ghi nhận viêm phế quản mãn gặp khoảng 3,5% ở nông thôn, 8-10% ở các khu công nghiệp, 17% ở nhà máy . Năm 1980, Phạm Khuê và Cao Hoàng Phong điều tra trên 107 000 người thì tỉ lệ viêm phế quản mãn là 4,7%. Tại Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương, BPTNMT chiếm khoảng 25% bệnh lý hô hấp nhập viện. Tại Bệnh Viện Trưng Vương, 11% bệnh nhân vào cấp cứu là do đợt kịch phát BPTNMT. Theo công bố năm 2002 thì BPTNMT có độ lưu hành cao nhất ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương là 6,7%.

2.Sự trao đổi khí ở phổi xảy ra ở màng phế nang mao mạch, do khuếch tán hoàn toàn thụ động nhờ sự chênh lệch áp suất các chất khí. Do đó, ở cuối mao mạch phổi, PaO2 máu tăng từ 40 ? 99,9 mmHg, PaCO2 máu giảm từ 46?40mmHg.

Trung tâm hô hấp là nhóm tế bào thần kinh nằm ở hai bên trong vùng chất lưới của cầu não và hành tủy được điều hòa bởi các yếu tố hóa học và yếu tố không hóa học. Trong đó quan trọng nhất là các yếu tố hóa học như CO2, H+, O2

- CO2 ảnh hưởng lên hô hấp có phản ứng tức thời mạnh nhưng phản ứng yếu dần nếu kinh niên, có lẽ do bù trừ của HCO3?. Khi CO2 tăng 5-9% thì thông khí phế nang tăng, nếu tăng cao hơn nữa sẽ ức chế trung tâm hô hấp, tăng 20-30% thì sẽ hôn mê. BPTNMT là nhóm bệnh có nồng độ CO2 cao. Khi cho thở oxy thì càng làm tăng CO2 thêm nữa, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Do đó, thở oxy ở nhóm bệnh nhân này cần được theo dõi cẩn thận.

- H+ tăng sẽ kích thích thông khí phế nang, ảnh hưởng của H+ ngày càng mạnh lên trung tâm hô hấp.

- O2 chỉ gây kích thích mạnh khi PaO2< 60mmHg, bình thường thì cơ chế này là yếu nhất.

Trong BPTNMT, suy hô hấp mãn thì vùng cảm thụ hóa học trung ương ở cuống não với CO2 và H+ đã bị ức chế. Cơ chế kích thích của O2 rất quan trọng vì đây là cơ chế cứu mạng cho bệnh nhân. Tuy nhiên cần thận trọng khi dùng oxy cho những trường hợp này vì PaO2 cao có thể làm mất luôn tính kích thích còn lại của O2 với trung tâm hô hấp.

3. BPTNMT được chia thành 4 giai đoạn từ nhẹ đến nặng dựa vào việc đo chức năng hô hấp, chỉ số FEV1. Giai đoạn 4 là giai đoạn nặng nhất, chỉ số FEV1 rất thấp, bệnh nhân luôn cảm thấy khó thở ngay cả trong sinh hoạt hàng ngày, chất lượng cuộc sống của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Những bệnh nhân này cần cung cấp oxy liên tục (khoảng >15 giờ/ngày) để cải thiện thông khí, giảm bớt biến chứng của bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống .

BPTNMT hiện nay có chiến lược quản lý bệnh khá tốt trên thế giới. Bệnh nhân được theo dõi từ giai đoạn nhẹ đến nặng và được chăm sóc ngay cả tại nhà nhằm đem lại cho họ chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể được.Bệnh nhân có sổ dữ liệu căn bản ghi lại những thông tin cần thiết bao gồm : CNHH, KMÐM, X quang phổi, ECG, CTM. Dựa vào những thông số này mà có chỉ định thở oxy hợp lý cho từng bệnh nhân. Tại Mỹ hiện có hơn 800 000 bệnh nhân thở oxy liên tục tại nhà, tiêu tốn hàng năm khoảng 1,8 tỉ đôla. Tuy nhiên lợi ích của việc thở oxy này rõ ràng như: cải thiện tỉ lệ sống, cải thiện huyết động động mạch phổi, tăng khả năng gắng sức, tâm thần kinh, ngủ ngon hơn. nâng cao chất lượng cuộc sống.

LỢI ÍCH CỦA THỞ OXY LIÊN TỤC TẠI NHÀ Ở BỆNH NHÂN BPTNMT

1. Có giấc ngủ tốt hơn

2. Ổn định áp lực động mạch phổi: tránh bị tâm phế mãn, suy tim phải

3. Giảm số lần nhập viện

4. Tăng tuổi thọ.

5. Cải thiện tâm thần kinh.

6. Cải thiện chất lượng cuộc sống.

AI CÓ CHỈ ÐỊNH THỞ OXY TẠI NHÀ?

BPTNMT giai đoạn 4 có :

1. PaO2 < 55 mmHg

2. PaO2 từ 55- 60 mmHg có kèm:

- Tăng áp lực động mạch phổi

- Phù chân / suy tim phải

- Ða hồng cầu

Những thông số này được ghi nhận qua sổ dữ liệu theo dõi bệnh nhân hàng năm. Bác sĩ sẽ chỉ định cho bệnh nhân liều thở oxy thích hợp tùy bệnh nhân.

CÁC SAI LẦM TRONG VIỆC THỞ OXY HIỆN NAY VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

Bệnh nhân thường xem oxy như thần dược nên đôi khi lạm dụng và có những tác dụng nguy hiểm đến sức khoẻ.

1. Sử dụng không đúng cách:

- Liều quá cao: bệnh nhân thường tự ý tăng liều thở oxy, nhất là khi bệnh trở nặng. Người nhà thường tăng liều khi thấy bệnh nhân khó thở, điều hoàn toàn có hại vì sẽ làm mất cơ chế kích thích hô hấp duy nhất của bệnh nhân BPTNMT.

- Thời gian thở không đúng: thông thường bệnh nhân chỉ thở khi thấy mệt, khoảng 15-30 phút.

2. Không có sự theo dõi của BS chuyên khoa

Ða số bệnh nhân BPTNMT thở oxy tại nhà chỉ dựa vào sự hướng dẫn của cửa hàng bán oxy mà không có sự theo dõi của BS chuyên khoa hô hấp.

* Khắc phục:

- Lập sổ theo dõi cho bệnh nhân: đo KMÐM khi bệnh ổn định và lặp lại sau 3-4 tuần, sau đó theo dõi hàng năm.

- Ðảm bảo những điều trị khác tối ưu ( thuốc men, dinh dưỡng, ngưng thuốc lá.)

- BS theo dõi bệnh nhân tại nhà mỗi tháng hoặc khi bệnh nhân có vấn đề

3. Không biết cách theo dõi dụng cụ thở oxy.

- Dụng cụ thở không được vệ sinh đúng cách

- Bình làm ẩm không được vệ sinh, thay nước sạch

- Theo dõi lượng oxy đã thở, bình oxy khi nào là hết.

* Khắc phục:

- Dây thở khi không sử dụng phải đựng trong túi nilong sạch . Canula rửa bằng xà phòng và sấy khô 1-2 lần / tuần. Thay canula mới mỗi 2-4 tuần. Sau 1 đợt cảm cúm phải thay canula mới.

- Bình làm ẩm nên tháo ra rửa sạch và thay nước hàng ngày, hoặc khi cạn nước.

- Khi đồng hồ áp suất bằng 0 tức đã hết oxy nên thay bình khác.

- Khi không sử dụng phải khóa van lại cẩn thận.

1. Nguyên tắc an toàn cháy nổ:

Bệnh nhân và người trong nhà chưa nhận thức được mức độ nguy hại của oxy, còn hút thuốc gần nơi thở oxy hoặc bố trí bình oxy gần nơi nấu nướng hay dễ va chạm.

Oxy thật sự không phải là chất gây nổ, gây cháy nhưng nó sẽ làm cháy to hơn, mạnh hơn. Trên thế giới chưa ghi nhận cháy nổ do thở oxy tại nhà, chỉ bị phỏng mặt ở những người vừa thở oxy vừa hút thuốc.

Phòng thở oxy nên cách ly, cách xa các nguồn dễ cháy (bình gas, nến, nơi đốt nhang.) Không hút thuốc nơi thở oxy.

CÁCH SỬ DỤNG OXY TẠI NHÀ Ở BỆNH NHÂN BPTNMT

1. Thở liều thấp: 1-2 lít/phút

2. Thời gian thở oxy ít nhất là 15 giờ/ngày.

DỤNG CỤ THỞ OXY

1. Nguồn cung cấp oxy: bình oxy, máy tách oxy từ khí trời, bình oxy hoá lỏng.

2. Bộ van chỉnh liều: đồng hồ áp suất, đồng hồ lưu lượng.

3. Bình làm ẩm.

4. Dây thở oxy: ống thông mũi, canula.

BÌNH OXY: phải nạp oxy khi sử dụng hết.

MÁY TÁCH OXY TỪ KHÍ TRỜI: lấy oxy từ không khí.

BÌNH OXY HÓA LỎNG: Rất thuận tiện, nhỏ gọn khoảng 4 kg, bệnh nhân có thể mang theo người và sinh hoạt như người bình thường. ( hình uốn tóc, đi làm, đi du lịch).

DÂY THỞ OXY

- Canula (hình)

- Ống thông mũi (hình)

So sánh ưu khuyết điểm hai loại

ỐNG THÔNG MŨI

- Còn 1 mũi trống

- Dễ cố định

- Kích thích hầu họng, cản trở nuốt

- Dễ bị bít do chất tiết

CANULA

- Cả 2 mũi bị cản trở

- Cố định kém hơn

- Dễ dàng ăn uống nói chuyện.

- Khó bị bít

CÁCH SỬ DỤNG ỐNG THÔNG MŨI

- Ðo khoảng cách từ cánh mũi đến dái tai cùng bên.

- Ðánh dấu

- Ðưa nhẹ nhàng vào mũi đến vị trí đánh dấu

- Cố định bằng băng keo.

 

CÁCH SỬ DỤNG CANULA

Ðưa 2 nhánh vào mũi

Choàng dây qua 2 tai

Cố định dưới cằm hoặc sau gáy

 

Sau đây là một số địa chỉ cung cấp oxy và giá thành:

1. Công ty cổ phần Lá Xanh- ÐT

Bình oxy lớn 6m3 = 6000 lít (thế chân 1000000đ)

Mua oxy 60 000đ

Bình oxy nhỏ 2 m3= 2000 lít ( thế chân 900000đ)

Mua oxy 32000 đ

2. Công ty Metran- ÐT

Máy tách oxy từ khí trời gọn nhẹ , sử dụng điện , có thể di chuyển dễ dàng.

Giá 1500USD
Thuê: 60 000đ/ ngày ( thế chân bằng giá trị máy). Hợp đồng ít nhất 6 tháng.

Các bình luận

Để lại bình luận của bạn

Tin Tức